Cán bộ xã Nậm Kè, tỉnh Điện Biên hướng dẫn người dân thực hiện dịch vụ công trên nền tảng số (Ảnh TL)Mục tiêu của Đề án “Phát triển đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu số trong cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập giai đoạn 2026 - 2030, định hướng đến năm 2035” (Đề án) nhằm tiếp tục nâng cao tỷ lệ, số lượng, chất lượng, bảo đảm cơ cấu hợp lý đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số (DTTS) trong cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, nhất là các cơ quan, đơn vị thực hiện chức năng, nhiệm vụ về công tác dân tộc, các địa phương vùng đồng bào DTTS và miền núi.
Từng bước xây dựng đội ngũ cán bộ người DTTS có đủ phẩm chất, uy tín, năng lực, trình độ, chuyên nghiệp đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới; góp phần củng cố hệ thống chính trị cơ sở và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước nói chung và tại vùng đồng bào DTTS và miền núi nói riêng.
Đồng thời, gắn mục tiêu phát triển đội ngũ cán bộ người DTTS với mục tiêu giảm nghèo đa chiều bền vững ở vùng đồng bào DTTS và miền núi thông qua phát triển nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng và hiệu quả sử dụng đội ngũ cán bộ tại cơ sở.
Các mục tiêu cụ thể:
Về tỷ lệ cán bộ người DTTS, Đề án đặt lộ trình phấn đấu giai đoạn từ 2026 - 2030 đạt 80%; từ giai đoạn 2030 - 2035 đạt 100% với các tỷ lệ cụ thể:
Đối với các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: Tối thiểu là 3% đến 5% tổng số biên chế được giao của cấp tỉnh đối với tỉnh có tỷ lệ người DTTS chiếm từ 5% đến dưới 10% tổng dân số của tỉnh. Tối thiểu từ 5% - 10% tổng số biên chế được giao của cấp tỉnh đối với tỉnh có tỷ lệ người DTTS chiếm từ 10% đến dưới 30% tổng dân số của tỉnh.
Tối thiểu là 10% -15% tổng số biên chế được giao của cấp tỉnh đối với tỉnh có tỷ lệ người DTTS chiếm từ 30% đến dưới 50% tổng dân số của tỉnh. Tối thiểu là 15% - 20% tổng số biên chế được giao của cấp tỉnh đối với tỉnh có tỷ lệ người DTTS chiếm từ 50% đến dưới 70% tổng dân số của tỉnh. Tối thiểu là 20% tổng số biên chế được giao của cấp tỉnh đối với tỉnh có tỷ lệ người DTTS trên 70% tổng dân số của tỉnh.
Đối với cấp xã, phường, đặc khu: Tối thiểu là 5% tổng số biên chế được giao của cấp xã đối với xã có tỷ lệ người DTTS chiếm từ 5% đến dưới 10% tổng dân số của xã. Tối thiểu là 5% - 15% tổng số biên chế được giao của cấp xã đối với xã có tỷ lệ người DTTS chiếm từ 10% đến dưới 30% tổng dân số của xã.
Tối thiểu là 15% - 25% tổng số biên chế được giao của cấp xã đối với xã có tỷ lệ người DTTS chiếm từ 30% đến dưới 50% tổng dân số của xã. Tối thiểu là 25% - 35% tổng số biên chế được giao của cấp xã đối với xã có tỷ lệ người DTTS chiếm từ 50% đến dưới 70% tổng dân số của xã. Tối thiểu là 35% - 50% tổng số biên chế được giao của cấp xã đối với xã có tỷ lệ người DTTS trên 70% tổng dân số của xã.
Theo Quyết định số 470/QĐ-TTg, Ban và Phòng chuyên môn thực hiện chức năng, nhiệm vụ về công tác dân tộc thuộc HĐND và UBND cấp xã ưu tiên bố trí cán bộ người DTTS thực hiện nhiệm vụ về công tác dân tộc.Đối với cơ quan, đơn vị thực hiện chức năng, nhiệm vụ về công tác dân tộc:
Bộ Dân tộc và Tôn giáo tối thiểu là 20% - 25% trên tổng số biên chế được giao. Các Vụ, ban hoặc tổ chức, đơn vị tương đương thuộc bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có chức năng, nhiệm vụ về công tác dân tộc tối thiểu là 25% tổng số biên chế được giao.
Ban Dân tộc của HĐND tỉnh, Sở Dân tộc và Tôn giáo: Tối thiểu là 20% tổng số thành viên Ban Dân tộc của HĐND tỉnh; tối thiểu 20% tổng biên chế được giao của Sở Dân tộc và Tôn giáo đối với tỉnh có tỷ lệ người DTTS chiếm từ 5% đến dưới 10% tổng dân số của tỉnh.
Tối thiểu là 25% tổng số thành viên Ban Dân tộc của HĐND tỉnh; tối thiểu 25% tổng biên chế được giao của Sở Dân tộc và Tôn giáo đối với tỉnh có tỷ lệ người DTTS chiếm từ 10% đến dưới 30% tổng dân số của tỉnh.
Tối thiểu là 30% tổng số thành viên Ban Dân tộc của HĐND tỉnh; tối thiểu 30% tổng biên chế được giao của Sở Dân tộc và Tôn giáo đối với tỉnh có tỷ lệ người DTTS chiếm từ 30% đến dưới 50% tổng dân số của tỉnh.
Tối thiểu là 35% tổng số thành viên Ban Dân tộc của HĐND tỉnh; tối thiểu 35% tổng biên chế được giao của Sở Dân tộc và Tôn giáo đối với tỉnh có tỷ lệ người DTTS chiếm từ 50% đến dưới 70% tổng dân số của tỉnh.
Tối thiểu là 40% tổng số thành viên Ban Dân tộc của HĐND tỉnh; tối thiểu 40% tổng biên chế được giao của Sở Dân tộc và Tôn giáo đối với tỉnh có tỷ lệ người DTTS trên 70% tổng dân số của tỉnh.
Trường hợp không có Ban Dân tộc thuộc HĐND tỉnh, Sở Dân tộc và Tôn giáo thì cấp có thẩm quyền ở địa phương căn cứ vào tình hình thực tế quyết định tỷ lệ cán bộ người DTTS tại các cơ quan, đơn vị được giao thực hiện chức năng, nhiệm vụ về công tác dân tộc.
Ban và Phòng chuyên môn thực hiện chức năng, nhiệm vụ về công tác dân tộc thuộc HĐND và UBND cấp xã ưu tiên bố trí cán bộ người DTTS thực hiện nhiệm vụ về công tác dân tộc.
Đề án Phát triển đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu số trong cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập giai đoạn 2026 - 2030, định hướng đến năm 2035 yêu cầu bảo đảm cơ cấu cán bộ nữ người DTTS tối thiểu là 20% trong tổng số tỷ lệ tối thiểu cán bộ người DTTS.Bảo đảm cơ cấu hợp lý cán bộ người DTTS giữ các chức danh lãnh đạo, quản lý các cấp
Về mục tiêu cơ cấu cán bộ người DTTS, thực hiện theo lộ trình phấn đấu từ năm 2026 - 2030 đạt 80% và từ năm 2030 - 2035 đạt 100% với các mục tiêu cụ thể:
Bảo đảm cơ cấu cán bộ người DTTS tương ứng với tỷ lệ người DTTS trong tổng dân số của tỉnh; phù hợp với cơ cấu của các thành phần DTTS ở địa phương.
Bảo đảm cơ cấu hợp lý cán bộ người DTTS giữ các chức danh lãnh đạo, quản lý các cấp. Trong đó, Bộ Dân tộc và Tôn giáo tối thiểu là 20% - 25% trên tổng số chức danh lãnh đạo, quản lý. Vụ, ban hoặc tổ chức, đơn vị tương đương thuộc bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ban Dân tộc của HĐND tỉnh, Sở Dân tộc và Tôn giáo phải có ít nhất 01 vị trí giữ chức danh cấp trưởng hoặc cấp phó hoặc 01 vị trí được quy hoạch giữ các chức danh lãnh đạo, quản lý là người DTTS.
Ở địa phương, tối thiểu là 10% ở cấp tỉnh, trên tổng số cán bộ người DTTS của tỉnh. Tối thiểu là 20% ở cấp xã trên tổng số cán bộ người DTTS của xã. Đối với đơn vị sự nghiệp công lập ở địa phương có từ 30% cán bộ người DTTS trở lên phải bảo đảm có viên chức quản lý người DTTS. Bảo đảm cơ cấu cán bộ nữ người DTTS tối thiểu là 20% trong tổng số tỷ lệ tối thiểu cán bộ người DTTS.
Về chất lượng cán bộ người DTTS, phấn đấu từ năm 2026 - 2030 đạt 80% và từ năm 2030 - 2035 đạt 100% số cán bộ người DTTS được đào tạo, bồi dưỡng về trình độ chuyên môn, lý luận chính trị; kiến thức, kỹ năng quản lý nhà nước, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, kỹ năng số và phương thức quản lý hiện đại, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số quốc gia; bồi dưỡng về tin học, ngoại ngữ hoặc tiếng DTTS, đáp ứng yêu cầu của vị trí việc làm theo quy định.
Để đạt được các mục tiêu cụ thể nêu trên, Đề án đã đưa ra các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể để các bộ, ngành, địa phương và các cơ quan liên quan triển khai thực hiện, bao gồm: Hoàn thiện thể chế, cơ chế; tạo nguồn, tuyển dụng, sử dụng và bảo đảm cơ cấu; bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ, cán bộ; lãnh đạo, chỉ đạo, giám sát và theo dõi, đánh giá thực hiện…