Analytic
Báo Dân tộc và Phát triẻn
Chuyên trang

Dân tộc - Tôn giáo với sự phát triển của đất nước

Thời sự

Tư tưởng Hồ Chí Minh và bài học đại đoàn kết dân tộc, tôn giáo

Nhật Minh - 20:05, 31/08/2025

Trong dòng chảy lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và tôn giáo là một nền tảng quan trọng, có ý nghĩa xuyên suốt, nhất quán và thực tiễn sâu sắc. Đó không chỉ là tư duy chính trị của một Nhà cách mạng vĩ đại, mà còn là kết tinh của trí tuệ, lòng nhân ái và tầm nhìn xa, trông rộng về sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc - một sức mạnh có thể vượt qua mọi thù trong giặc ngoài, đưa đất nước đi từ nô lệ đến độc lập, từ chiến tranh đến hòa bình, từ nghèo nàn đến phát triển.

 Bác Hồ với đồng bào các DTTS. Ảnh tư liệu
Bác Hồ với đồng bào các DTTS. Ảnh tư liệu

Trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, dân tộc là nền tảng gốc rễ, là hồn cốt của mọi cuộc vận động cách mạng. Tư tưởng về vấn đề dân tộc của Người không dừng ở nhận thức lý luận, mà gắn chặt với yêu cầu thực tiễn và khát vọng giải phóng dân tộc. Bởi Người hiểu sâu sắc rằng, trong một đất nước có nhiều dân tộc anh em cùng sinh sống, nếu không có sự thống nhất ý chí và lòng tin, thì không một cuộc cách mạng nào, dù chính nghĩa đến đâu cũng khó có thể thành công bền vững. Do đó, đại đoàn kết giữa các dân tộc là chiến lược lâu dài, là điều kiện sống còn, là chân lý cách mạng.

Trong "Thư gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam tại Pleiku" ngày 19/4/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt...”. Đó không chỉ là một quan điểm chính trị, mà trong từng câu chữ giản dị ấy là cả chiều sâu của một tầm nhìn vượt thời đại, một sự khẳng định không thể lay chuyển rằng, mọi dân tộc, dù số đông hay thiểu số, dù vùng xuôi hay miền núi, đều là máu thịt, là thành phần không thể tách rời của đại gia đình dân tộc Việt Nam.

Tư tưởng Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng, các dân tộc không chỉ sống cùng nhau, mà phải cùng nhau xây dựng, cùng nhau hưởng thụ thành quả phát triển và cùng chia sẻ trách nhiệm với vận mệnh chung. Sự bình đẳng ấy xuất phát từ sự tôn trọng thực chất. Đây là quan điểm vừa nhân văn, vừa tiến bộ, đi trước nhiều mô hình đa sắc tộc khác trên thế giới thời bấy giờ.

Trong thực tế, từ những năm đầu của chính quyền cách mạng non trẻ, Người đã chủ trương xây dựng chính sách dân tộc toàn diện: Cử cán bộ người dân tộc thiểu số tham gia bộ máy Nhà nước, mở lớp đào tạo cán bộ địa phương, tôn trọng phong tục tập quán, bảo vệ ngôn ngữ và văn hóa truyền thống các dân tộc... Với tầm nhìn của Người, sự thống nhất không đối lập với sự đa dạng và chỉ khi biết coi trọng sự khác biệt như một phần của sức mạnh chung, đất nước mới có thể phát triển hài hòa và bền vững.

Ngày nay, thế giới vẫn đang biến động phức tạp, nạn phân biệt chủng tộc, xung đột sắc tộc và mâu thuẫn tôn giáo tiếp tục làm rạn nứt nhiều quốc gia, thì Việt Nam với 54 dân tộc anh em, với hơn 25 triệu tín đồ tôn giáo vẫn luôn đoàn kết, hòa hợp và ổn định. Đó là minh chứng sống động cho tính đúng đắn, tính bền vững và tầm nhìn thời đại trong tư tưởng Hồ Chí Minh và sự vận dụng sáng tạo của Đảng, Nhà nước với tư tưởng, tầm nhìn của Người.

Về vấn đề tôn giáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh không nhìn đó như một trở ngại của cách mạng, mà là một bộ phận của đời sống tinh thần Nhân dân, cần được tôn trọng và bảo vệ. Tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào ngày 3/9/1945, ngay sau khi nước nhà giành được độc lập, Người đã khẳng định rằng: “Chính phủ ta tuyên bố: tín ngưỡng tự do và lương giáo đoàn kết”.

Đồng thời, Người cũng khẳng định rằng, chính quyền sẽ tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của công dân - Một quan điểm sau này được thể chế hóa trong Hiến pháp 1946 và tiếp tục được kế thừa qua các bản Hiến pháp và luật pháp của Việt Nam. Quyền này trở thành quyền hiến định của người dân và được bảo vệ nghiêm túc trong hệ thống pháp luật của Nhà nước Việt Nam.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đoàn kết tôn giáo không phải là sự dung hòa hình thức, mà là sự đồng hành chân thành giữa những người cùng lý tưởng yêu nước, dù khác niềm tin tín ngưỡng. Tư tưởng đó đã vượt lên những quan niệm giáo điều, khô cứng, đặt mọi con người Việt Nam, không phân biệt dân tộc, tôn giáo vào vị trí trung tâm của cách mạng. Đó là một cách tiếp cận nhân văn, khai phóng và tiến bộ vượt thời đại…

Kế thừa, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, suốt 80 năm qua, trong xây dựng và thực thi chính sách dân tộc và tôn giáo, Đảng, Nhà nước ta luôn kiên định nguyên tắc: Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển. Nguyên tắc này được khẳng định trong nhiều văn kiện quan trọng như Nghị quyết Trung ương 24 (khóa IX) về nâng cao đời sống kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng vùng đồng bào dân tộc thiểu số; hay gần đây là Nghị quyết 120/2020/QH14 phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021- 2030...

Tư tưởng và đường lối ấy đã được thể chế hóa thành hệ thống pháp luật đồng bộ, phù hợp chuẩn mực quốc tế. Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo năm 2016 đánh dấu bước tiến quan trọng trong bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, đồng thời tạo khung pháp lý minh bạch để tôn giáo đồng hành cùng dân tộc. Các chương trình phát triển vùng đồng bào được triển khai đồng bộ, chú trọng hạ tầng, giáo dục, y tế, bảo tồn văn hóa, an sinh xã hội và chuyển đổi sinh kế, hướng tới thu hẹp khoảng cách phát triển, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, thể hiện rõ cam kết phát triển bao trùm và bền vững…

Ngày nay, giữa bối cảnh thế giới biến động phức tạp, những vấn đề như phân biệt chủng tộc, xung đột sắc tộc, mâu thuẫn tôn giáo vẫn đang làm rạn nứt nhiều quốc gia, thì Việt Nam với 54 dân tộc anh em, với hơn 25 triệu tín đồ tôn giáo vẫn luôn đoàn kết, hòa hợp và ổn định. Đó là minh chứng sống động cho tính đúng đắn, tính bền vững và tầm nhìn thời đại trong tư tưởng Hồ Chí Minh và sự vận dụng sáng tạo của Đảng, Nhà nước với tư tưởng, tầm nhìn của Người.

Tin cùng chuyên mục
Nhân đôi niềm vui trong ngày Quốc khánh

Nhân đôi niềm vui trong ngày Quốc khánh

Sau khi UBND tỉnh Quảng Trị có Quyết định trích gần 185 tỷ đồng để tặng quà cho Nhân dân trong dịp lễ Quốc Khánh 2/9, số tiền trên đã được phân bổ về địa phương cấp xã. Hiện các xã vùng DTTS ở Quảng Trị đang khẩn trương cấp phát quà để đồng bào đón niềm vui trọn vẹn trước Tết Độc lập.