Mục tiêu của Đề án là đổi mới toàn diện công tác phổ biến giáo dục pháp luật (PBGDPL) để tạo đột phá về nhận thức, ý thức thượng tôn Hiến pháp, pháp luật và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật; hình thành thói quen tự giác tìm hiểu pháp luật phù hợp với đặc thù của đồng bào DTTS, địa bàn vùng đồng bào DTTS và miền núi; góp phần thực hiện thống nhất, đồng bộ, hiệu quả công tác dân tộc, chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo, chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi; củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân tộc và lòng tin của đồng bào với Đảng và Nhà nước.
Cán bộ Biên phòng tuyên truyền, vận động Nhân dân tố giác các loại tội phạm. (Ảnh IT)Giai đoạn I từ 2026 - 2030, Đề án sẽ đào tạo, bồi dưỡng 650 người để trở thành đội ngũ hạt nhân nòng cốt triển khai thực hiện công tác PBGDPL tại địa phương.
Phấn đấu 100% địa phương vùng đồng bào DTTS và miền núi hoàn thành xây dựng, ban hành chương trình, tài liệu bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ PBGDPL đặc thù với đồng bào DTTS và địa bàn vùng đồng bào DTTS và miền núi; số hóa 70% chương trình, tài liệu PBGDPL của Đề án và công bố công khai trên Cổng thông tin PBGDPL Quốc gia, Cổng thông tin PBGDPL địa phương, mạng internet hoặc được xuất bản, phát hành bằng hình thức phù hợp; mỗi xã đặc biệt khó khăn có ít nhất 2 người làm công tác PBGDPL được bồi dưỡng theo chương trình, tài liệu của Đề án.
Khoảng 50% người dân sinh sống ở vùng đồng bào DTTS và miền núi; 60% người dân sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, địa bàn phức tạp về an ninh, trật tự; 70% người dân thuộc nhóm DTTS còn gặp nhiều khó khăn, có khó khăn đặc thù được PBGDPL bằng hình thức phù hợp. Trong đó, ít nhất 30% hoạt động PBGDPL được thực hiện bằng ngôn ngữ của các DTTS, 50% hoạt động PBGDPL được thực hiện bằng môi trường số.
Giai đoạn II từ 2031 - 2035, Đề án sẽ đào tạo, bồi dưỡng khoảng 1.300 người để trở thành đội ngũ hạt nhân nòng cốt triển khai thực hiện công tác PBGDPL tại địa phương.
Phấn đấu 100% chương trình, tài liệu PBGDPL đã ban hành được cập nhập, chỉnh lý hoặc ban hành mới; số hóa 100% chương trình, tài liệu PBGDPL; mỗi xã vùng đồng bào DTTS và miền núi có ít nhất 2 người tham gia công tác PBGDPL; 100% đội ngũ hạt nhân nòng cốt, người làm công tác PBGDPL được bồi dưỡng, tập huấn, tiếp cận và sử dụng tài liệu PBGDPL bằng hình thức phù hợp.
Phấn đấu 100% bí thư chi bộ; Người có uy tín trong đồng bào DTTS; người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, bản; chức sắc, chức việc tôn giáo, người đứng đầu các tổ chức tôn giáo được bồi dưỡng kỹ năng, kiến thức, nghiệp vụ PBGDPL.
Khoảng 70% người dân sinh sống ở vùng đồng bào DTTS và miền núi; 60% người dân sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, địa bàn phức tạp về an ninh, trật tự; 90% người dân thuộc nhóm DTTS còn gặp nhiều khó khăn, có khó khăn đặc thù được PBGDPL bằng hình thức phù hợp. Trong đó, ít nhất 50% hoạt động PBGDPL được thực hiện bằng ngôn ngữ của các DTTS, 80% hoạt động PBGDPL được thực hiện bằng môi trường số.
Phát huy vai trò của già làng, những Người có uy tín, lực lượng làm công tác dân số địa phương để phổ biến pháp luật đến với người dân ở các bản, làng.Về phạm vi, Đề án được thực hiện tại vùng đồng bào DTTS và miền núi, vùng có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, địa bàn phức tạp về an ninh, trật tự. Trong đó, ưu tiên thôn, xã đặc biệt khó khăn; địa bàn còn hủ tục, tập quán lạc hậu, nhận thức pháp luật của người dân còn hạn chế. Khuyến khích các địa phương khác triển khai thực hiện công tác PBGDPL cho đồng bào DTTS trên địa bàn.
Đối tượng của Đề án là đội ngũ hạt nhân nòng cốt, người làm công tác PBGDPL, người làm công tác dân tộc, tôn giáo tại địa phương. Đồng bào DTTS, người dân sinh sống ở vùng đồng bào DTTS và miền núi; ưu tiên đồng bào DTTS rất ít người; các dân tộc còn gặp nhiều khó khăn, có khó khăn đặc thù; người DTTS có đạo; học sinh, sinh viên học tập tại các cơ sở giáo dục đào tạo trên địa bàn vùng đồng bào DTTS và miền núi.
Để đạt được các mục tiêu, Đề án xác định cần thực hiện đồng bộ 4 nhóm nhiệm vụ, giải pháp, bao gồm: Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng và trách nhiệm của người đứng đầu địa phương trong công tác PBGDPL; xây dựng, phát triển và nâng cao năng lực cho đội ngũ hạt nhân nòng cốt làm công tác PBGDPL; đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức PBGDPL; nâng cao năng lực, giám sát, đánh giá thực hiện Đề án.
Thời gian thực hiện của Đề án là từ năm 2026 đến hết năm 2035. Bộ Dân tộc và Tôn giáo được giao chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành và địa phương để tổ chức thực hiện.