Analytic
Báo Dân tộc và Phát triẻn
Chuyên trang

Dân tộc - Tôn giáo với sự phát triển của đất nước

Dân tộc - Tôn giáo

Giải bài toán giảm nghèo bền vững trong giai đoạn mới: Kiến tạo nền tảng từ năng lực nội sinh (Bài cuối)

Sỹ Hào - 3 giờ trước

Giảm nghèo bền vững không chỉ là nhiệm vụ của một chương trình hay một giai đoạn, mà phải trở thành một chiến lược phát triển dài hạn, dựa trên việc xây dựng năng lực nội sinh và khả năng chống chịu cho người nghèo.

Lời tòa soạn:

Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã xác lập một bước chuyển căn bản trong tư duy giảm nghèo. Nếu như trước đây, trọng tâm là hỗ trợ trực tiếp, giải quyết thiếu hụt trước mắt về vật chất, thì nay, cách tiếp cận đã chuyển mạnh sang trao quyền, nâng cao năng lực nội sinh và tăng khả năng thích ứng của người nghèo trước những biến động của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.

Để cụ thể hóa tinh thần chỉ đạo của Đảng vào các chương trình, kế hoạch, việc đánh giá thực trạng và tìm lời giải cho bài toán giảm nghèo bền vững là yêu cầu cấp thiết, nhất là đối với các địa phương vùng đồng bào DTTS và miền núi.

Bởi có một thực tế không thể xem nhẹ là, vùng đồng bào DTTS vẫn là “lõi nghèo”, hộ nghèo và cận nghèo vẫn chủ yếu là người DTTS. Vì vậy, giảm nghèo trong giai đoạn mới sẽ không còn là bài toán hỗ trợ đơn thuần, mà là phát triển toàn diện cho vùng “lõi nghèo”.

Cao Minh là xã khu vực III còn nhiều khó khăn của tỉnh Thái Nguyên, tỷ lệ nghèo đa chiều còn chiếm 60,55% tổng số hộ.
Cao Minh là xã khu vực III còn nhiều khó khăn của tỉnh Thái Nguyên, tỷ lệ nghèo đa chiều còn chiếm 60,55% tổng số hộ.

Thông điệp từ những lá đơn xin thoát nghèo

Báo cáo chính trị được thông qua tại Đại hội XIV của Đảng đặt mục tiêu đến năm 2030 cơ bản không còn hộ nghèo. Trong báo cáo, cụm từ “xóa đói, giảm nghèo” không còn được sử dụng mà nhấn mạnh tư duy phát triển bao trùm, bền vững, không ai bị bỏ lại phía sau.

Theo ông Phạm Hồng Đào - Phó Chánh Văn phòng Quốc gia về giảm nghèo (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), từ định hướng đó cho thấy, trong giai đoạn mới, vấn đề giảm nghèo đi vào căn cốt hơn, khơi dậy “khát vọng vươn mình” của mỗi người dân. Khi khát vọng được đánh thức, người dân không chỉ thụ hưởng chính sách mà chủ động nắm bắt cơ hội, trở thành chủ thể phát triển.

Tư duy mới về giảm nghèo được đúc kết từ thực tiễn sau 40 năm Đổi mới, đặc biệt là sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII. Thực tế đã chứng minh, với những gia đình khó khăn có khát vọng thoát nghèo, có ý chí tự lực thì sự hỗ trợ của Nhà nước là “cú hích” để họ vươn lên.

Giai đoạn 2021 – 2025, Chương trình MTQG phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi đã hỗ trợ đất ở cho 10.549 hộ, đất sản xuất cho 13.387 hộ và nhà ở cho 42.567 hộ; hỗ trợ chuyển đổi nghề cho 54.899 hộ; triển khai 403 dự án hỗ trợ phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị và 383 dự án, mô hình chăn nuôi, trồng trọt với sự tham gia của 36.654 hộ. Ngoài ra, 115.575 người lao động đã được hỗ trợ đào tạo nghề và tìm kiếm việc làm.

(Báo cáo tổng kết Chương trình MTQG phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2021 – 2025 của Bộ Dân tộc và Tôn giáo)

Phya Mạ là thôn đặc biệt khó khăn của xã Cao Minh, tỉnh Thái Nguyên, nơi sinh sống của 131 hộ/591 nhân khẩu, chủ yếu là đồng bào dân tộc Dao. Trong năm 2025, Phya Mạ giảm được 11 hộ nghèo và 6 hộ cận nghèo, đưa tỷ lệ hộ nghèo toàn thôn xuống còn 35,11%, tỷ lệ hộ cận nghèo còn 19,08%.

Gia đình Đặng Tòn Pu (sinh năm 1992) cùng với hộ Triệu Mùi Tít (sinh năm 1987) là hai trường hợp thoát nghèo đặc biệt ở Phya Mạ. Theo ông Ma Văn Tuấn – Chủ tịch UBND xã Cao Minh, từ các chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất, hai hộ này đã tích lũy được kinh tế, mua sắm thêm tài sản phục vụ sinh hoạt trong nhà nên viết đơn xin thoát nghèo cuối năm 2025.

Đây là hai trong 4 hộ chủ động làm đơn xin thoát nghèo trong năm 2025 của xã Cao Minh. Cũng trong năm này, xã có thêm 2 hộ cận nghèo tự nguyện xin ra khỏi danh sách hộ cận nghèo, dành sự hỗ trợ trực tiếp của Nhà nước cho những hộ khó khăn hơn.

Theo Chủ tịch UBND xã Cao Minh - ông Ma Văn Tuấn, những lá đơn xin thoát nghèo đặc biệt có ý nghĩa đối với xã. Bởi hiện tỷ lệ nghèo đa chiều của Cao Minh còn chiếm 60,55% (gồm 42,05% hộ nghèo và 18,5% hộ cận nghèo), trong khi bình quân chung của tỉnh chỉ còn 7,67%.

Cơ sở hạ tầng cần đi trước để mở lối giảm nghèo ở những địa bàn đặc biệt khó khăn. (Trong ảnh: Điểm trường Bó Khiếu Cao Tân ở xã Cao Minh, tỉnh Thái Nguyên)
Cơ sở hạ tầng cần đi trước để mở lối giảm nghèo ở những địa bàn đặc biệt khó khăn. (Trong ảnh: Điểm trường Bó Khiếu Cao Tân ở xã Cao Minh, tỉnh Thái Nguyên)

Nhìn rộng ra, những lá đơn xin thoát nghèo ở Cao Minh là thông điệp lớn về chuyển biến căn bản trong nhận thức và ý chí tự lực của người dân ở vùng đồng bào DTTS và miền núi.

Những lá đơn xin thoát nghèo vì thế không chỉ là dấu mốc của từng gia đình, mà còn là minh chứng sinh động cho sự chuyển dịch từ “hỗ trợ” sang “trao cơ hội”, từ “giảm nghèo” sang “phát triển”, khẳng định khi khát vọng vươn lên được khơi dậy, người dân chính là động lực bền vững nhất của công cuộc giảm nghèo.

Chính sách hỗ trợ đúng người – đúng nhu cầu

Những gia đình vừa thoát nghèo ở xã Cao Minh, ngoài nỗ lực của từng hộ thì có vai trò đặc biệt quan trọng của các chương trình, dự án đầu tư, hỗ trợ giảm nghèo bền vững. Là xã khu vực III, mặc dù rất quyết tâm nhưng trong năm 2025, toàn xã mới giảm được 71 hộ nghèo và 180 hộ cận nghèo.

Từ thực tế ở xã Cao Minh cho thấy, giảm nghèo ở địa bàn “lõi nghèo” là một cuộc trường chinh thử thách ý chí, bản lĩnh của cấp ủy, chính quyền địa phương và đồng bào các dân tộc. Đây cũng là minh chứng khẳng định chủ trương nhất quán và hành trình bền bỉ - “không bỏ ai lại phía sau” của Đảng, Nhà nước ta.

Hàng chục năm nay, một hệ thống chính sách đầu tư, hỗ trợ bao trùm đã được triển khai xuyên suốt để hỗ trợ giảm nghèo. Riêng giai đoạn 2021 – 2025, nguồn lực từ 2 Chương trình MTQG (giảm nghèo bền vững, phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi) được bố trí hàng trăm nghìn tỷ đồng để giải quyết các nhu cầu bức thiết của người dân vùng đồng bào DTTS và miền núi.

Trong quý I/2026, ngân sách nhà nước chi gần 25,0 nghìn tỷ đồng (tăng hơn 7,0 nghìn tỷ đồng so với quý I/2025) để thực hiện các chính sách an sinh xã hội, gồm: Gần 12,7 nghìn tỷ đồng hỗ trợ cho người có công; gần 10,4 nghìn tỷ đồng thực hiện bảo trợ xã hội; gần 1,6 nghìn tỷ đồng hỗ trợ cho các hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn; gần 366,2 tỷ đồng hỗ trợ bất thường khác phát sinh tại địa phương.

(Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý I/2026 của Cục Thống kê)

Nhưng đây hiện vẫn là “lõi nghèo” của cả nước, tỷ lệ hộ nghèo người DTTS vẫn chiếm hơn 69,9% tổng số hộ nghèo cả nước, tỷ lệ hộ cận nghèo chiếm hơn 49,4%; một bộ phận người dân vẫn còn thiếu đói vào mùa giáp hạt, hoặc gặp rủi ro trong cuộc sống.

Theo báo cáo của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), 3 tháng đầu năm 2026, Chính phủ đã hỗ trợ cho người dân 15,3 nghìn tấn gạo. Trong đó hỗ trợ gần 9,1 nghìn tấn gạo cứu đói nhân dịp Tết Nguyên đán cho 604,6 nghìn nhân khẩu; hỗ trợ 5,6 nghìn tấn gạo cứu đói giáp hạt cho 372,9 nghìn nhân khẩu; hỗ trợ hơn 604 tấn gạo khắc phục hậu quả thiên tai, mưa lũ cho 40,3 nghìn nhân khẩu.

Điều này đòi hỏi trong giai đoạn mới, chính sách giảm nghèo cần được thiết kế, thực thi linh hoạt hơn, phù hợp hơn với từng nhóm hộ nghèo. Bởi thực tế, không phải hộ nghèo nào cũng có hoàn cảnh giống nhau, nên việc áp dụng một cơ chế hỗ trợ chung cho tất cả các hộ nghèo sẽ khó đạt hiệu quả lâu dài.

Trở lại thôn Phya Mạ, xã Cao Minh (Thái Nguyên) để thấy rõ hơn điều này. Trong 46 hộ nghèo của thôn hiện nay, có 3 hộ do không có lao động, 21 hộ không có kiến thức sản xuất, 18 hộ không có kỹ năng lao động, 1 hộ có người bệnh tật và 3 hộ nghèo vì nguyên nhân khác.

Mở rộng ra, toàn xã Cao Minh hiện còn 1.100 hộ nghèo, ngoài những nguyên nhân nghèo như ở thôn Phya Mạ thì còn nhiều nguyên nhân khác. Trong đó, xã có 320 hộ nghèo do không có đất sản xuất, 415 hộ nghèo do không có vốn sản xuất kinh doanh, 182 hộ nghèo do không có công cụ/phương tiện sản xuất…

Để giảm nghèo bền vững đòi hỏi xã Cao Minh phải đưa chính sách hỗ trợ đúng đối tượng, đúng nhu cầu. Trong đó, đối với những hộ còn khả năng lao động, chính sách cần tập trung vào hỗ trợ sinh kế, đào tạo nghề, tiếp cận tín dụng và thị trường.

Còn với những hộ thiếu kỹ năng, thiếu kiến thức sản xuất, xã cần ưu tiên đào tạo nghề, chuyển giao kỹ thuật, hướng dẫn cách làm ăn. Với những hộ không còn khả năng lao động do tuổi cao, bệnh tật hoặc khuyết tật, việc đưa vào diện bảo trợ xã hội là giải pháp cần thiết để bảo đảm an sinh và nâng cao chất lượng cuộc sống.

Dựng “lá chắn” chống tái nghèo từ sớm, từ xa

Một thực tế đang đặt ra là, không ít gia đình ở vùng đồng bào DTTS và miền núi vừa thoát nghèo thì đã tái nghèo khi gặp rủi ro. Ngoài ra, nhiều địa phương chưa có lời giải triệt để cho bài toán nghèo phát sinh.

Dẫn chứng từ xã Cao Minh cho thấy, cuối năm 2025, toàn xã có 143 hộ từ cận nghèo thành hộ nghèo, có 1 hộ tái nghèo và 175 hộ nghèo phát sinh mới do gặp khó khăn đột xuất. Cũng trong năm này, xã có thêm 9 hộ tái cận nghèo và 35 hộ cận nghèo phát sinh.

Mục tiêu của giảm nghèo bền vững không chỉ là giúp người dân thoát nghèo, mà phải thoát “bẫy” tái nghèo. Điều này đòi hỏi chính sách giảm nghèo phải tạo được “lá chắn” bảo vệ người nghèo trước các rủi ro ngày càng gia tăng, nhất là trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp.

Không nói quá rằng, thiên tai chính là gánh nặng khiến kết quả giảm nghèo cứ trầy trượt như người leo núi mùa mưa. Chỉ trong năm 2025, Việt Nam phải đương đầu với trên 20 loại hình thiên tai dồn dập, khốc liệt vượt mức lịch sử trên phạm vi rộng, tổng thiệt hại kinh tế hơn 100.000 tỷ đồng.

Thiên tai là gánh nặng khiến kết quả giảm nghèo cứ trầy trượt như người leo núi mùa mưa. (Trong ảnh: Người dân thôn Đuông Nưa, xã Cao Minh, tỉnh Thái Nguyên đóng góp nhu yếu phẩm hỗ trợ đồng bào vùng lũ tháng 10/2025)
Thiên tai là gánh nặng khiến kết quả giảm nghèo cứ trầy trượt như người leo núi mùa mưa. (Trong ảnh: Người dân thôn Đuông Nưa, xã Cao Minh, tỉnh Thái Nguyên đóng góp nhu yếu phẩm hỗ trợ đồng bào vùng lũ tháng 10/2025)

Trong bối cảnh đó, Đại hội XIV của Đảng đặt ra yêu cầu không chỉ là phát triển kinh tế nhanh và bền vững mà còn phải bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, chăm lo tốt hơn đời sống Nhân dân, nhất là các nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương. Đồng thời nâng cao năng lực nội sinh và tăng khả năng thích ứng của người nghèo trước những biến động của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.

Để chủ trương đi vào cuộc sống, công tác giảm nghèo thực sự bền vững, người nghèo có khát vọng thoát nghèo, đại biểu Quốc hội Lò Thị Luyến (đoàn Điện Biên) cho rằng, cần tiếp tục triển khai hiệu quả các chương trình, dự án mà người dân không thể tự làm. Đó là đầu tư kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất, dân sinh, là cấp vốn tín dụng ưu đãi để mở rộng sinh kế, là chuyển giao khoa học kỹ thuật để gia tăng giá trị…

“Khi làm tốt được những điều kiện này, người dân sẽ tự nỗ lực cố gắng vươn lên để có cái ăn cái mặc, sẽ có việc làm, sẽ tự tạo sinh kế bền vững đảm bảo thu nhập cho cuộc sống”, bà Luyến nói.

Từ thực tiễn cho thấy, lời giải căn cơ cho bài toán giảm nghèo bền vững không nằm ở việc hỗ trợ nhiều hơn, mà ở việc giúp người nghèo mạnh hơn – mạnh về tri thức, kỹ năng, sinh kế và khả năng chống chịu trước rủi ro. Khi người nghèo có năng lực tự đứng vững, chính sách không còn là điểm tựa duy nhất, mà trở thành bệ phóng để họ bước vào quỹ đạo phát triển bền vững.

Cùng với tăng cường năng lực phòng, chống thiên tai cấp xã nhằm chủ động phòng ngừa, ứng phó kịp thời, khắc phục hậu quả thiên tai có hiệu quả, giai đoạn 2026 – 2030, ngân sách nhà nước tập trung hỗ trợ cải thiện nhà ở dân cư nông thôn theo hướng an toàn, kiên cố, thích ứng biến đổi khí hậu; ưu tiên hỗ trợ hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo, đối tượng chính sách, các hộ dân sống tại các khu vực có nguy cơ rủi ro thiên tai cao và dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu.

(Nội dung thành phần số 2 của Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2026 – 2030 được phê duyệt tại Quyết định số 417/QDD-BNNMT)

Đọc nhiều