Analytic
Báo Dân tộc và Phát triẻn
Chuyên trang

Dân tộc - Tôn giáo với sự phát triển của đất nước

Sức khỏe

Hướng dẫn chẩn đoán, điều trị sốt xuất huyết Dengue

T.Hợp - 16:07, 14/07/2023

Bộ Y tế vừa ban hành "Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị sốt xuất huyết Dengue áp dụng tại các cơ sở khám, chữa bệnh trong cả nước". Đây là bệnh thường khởi phát đột ngột nếu phát hiện sớm và hiểu rõ những vấn đề lâm sàng trong từng giai đoạn của bệnh sẽ giúp chẩn đoán sớm, điều trị đúng và kịp thời, nhằm cứu sống người bệnh.

Ảnh minh họa
Ảnh minh họa

Sốt xuất huyết Dengue là bệnh truyền nhiễm gây dịch do vi rút Denguegây nên. Vi rút Dengue có 4 typ huyết thanh là DEN-1, DEN-2, DEN-3 vàDEN-4. Vi rút truyền từ người bệnh sang người lành do muỗi đốt. Muỗi Aedesaegypti là côn trùng trung gian truyền bệnh chủ yếu.

Bệnh xảy ra quanh năm, thường gia tăng vào mùa mưa. Bệnh gặp ở cả trẻem và người lớn. Đặc điểm của sốt xuất huyết Dengue là sốt, xuất huyết và thoát huyết tương, có thể dẫn đến sốc giảm thể tích tuần hoàn, rối loạn đông máu, suy tạng, nếu không được chẩn đoán sớm và xử trí kịp thời dễ dẫn đến tử vong.

Bệnh sốt xuất huyết Dengue có biểu hiện lâm sàng đa dạng, diễn biến nhanh chóng từ nhẹ đến nặng. Bệnh thường khởi phát đột ngột và diễn biến qua ba giai đoạn: Giai đoạn sốt, giai đoạn nguy hiểm và giai đoạn hồi phục. Phát hiện sớm bệnh và hiểu rõ những vấn đề lâm sàng trong từng giai đoạn của bệnh giúp chẩn đoán sớm, điều trị đúng và kịp thời, nhằm cứu sống người bệnh.

Giai đoạn sốt có các biểu hiện lâm sàng: Sốt cao đột ngột, liên tục; nhức đầu, chán ăn, buồn nôn; da xung huyết; đau cơ, đau khớp, nhức hai hố mắt; thường có chấm xuất huyết ở dưới da, chảy máu chân răng hoặc chảy máu mũi…

Biểu hiện cận lâm sàng gồm: Hematocrit (Hct) bình thường; Số lượng tiểu cầu bình thường hoặc giảm dần (nhưng còn trên 100.000/mm3); Số lượng bạch cầu thường giảm.

(Tổng hợp) Hướng dẫn chẩn đoán, điều trị sốt xuất huyết Dengue 1

Giai đoạn nguy hiểm thường vào ngày thứ 3 - 7. Biểu hiện lâm sàng là người bệnh có thể còn sốt hoặc đã giảm sốt và có thể có các biểu hiện: Đau bụng nhiều và liên tục hoặc tăng cảm giác đau nhất là ở vùng gan; vật vã, lừ đừ, li bì; gan to > 2 cm dưới bờ sườn, có thể đau; nôn ói. 

Người bệnh có biểu hiện thoát huyết tương do tăng tính thấm thành mạch (thường kéo dài 24 - 48 giờ) như: Tràn dịch màng phổi, mô kẽ (có thể gây suy hô hấp), màng bụng, phù nề mi mắt. Nếu thoát huyết tương nhiều sẽ dẫn đến sốc với các biểu hiện vật vã, bứt rứt hoặc li bì, lạnh đầu chi, mạch nhanh nhỏ, huyết áp kẹt (hiệu số huyết áp tối đa và tối thiểu ≤ 20 mmHg hoặc tụt huyết áp, không đo được huyết áp, mạch không bắt được, da lạnh, nổi vân tím (sốc nặng), tiểu ít.

Người bị xuất huyết có nhiều loại như sau: Xuất huyết dưới da: Nốt xuất huyết rải rác hoặc chấm xuất huyết thường ở mặt trước hai cẳng chân và mặt trong hai cánh tay, bụng, đùi, mạn sườn hoặc mảng bầm tím.

Xuất huyết niêm mạc như chảy máu chân răng, chảy máu mũi, nôn ra máu, đi ngoài (tiêu) phân đen hoặc máu, xuất huyết âm đạo hoặc tiểu máu. 

Xuất huyết nặng: chảy máu mũi nặng (cần nhét bấc hoặc gạc cầm máu), xuất huyết âm đạo nặng, xuất huyết trong cơ và phần mềm, xuất huyết đường tiêu hóa và nội tạng (phổi, não, gan, lách, thận), thường kèm theo tình trạng sốc, giảm tiểu cầu, thiếu Oxy mô và toan chuyển hóa có thể dẫn đến suy đa phủ tạng và đông máu nội mạch nặng. Xuất huyết nặng cũng có thể xảy ra ở người bệnh dùng các thuốc kháng viêm như Acetylsalicylic Acid (Aspirin), Ibuprofen hoặc dùng Corticoid, tiền sử loét dạ dày - tá tràng, viêm gan mạn. 

Một số trường hợp nặng có thể có biểu hiện suy tạng như tổn thương gan nặng/suy gan, thận, tim, phổi, não. Những biểu hiện nặng này có thể xảy ra ở người bệnh có hoặc không có sốc do thoát huyết tương; tổn thương gan nặng/suy gan cấp, men gan AST, ALT ≥ 1.000 U/L; tổn thương/suy thận cấp; rối loạn tri giác (sốt xuất huyết Dengue thể não); viêm cơ tim, suy tim, hoặc suy chức năng các cơ quan khác. 

Biểu hiện cận lâm sàng của giai đoạn này là cô đặc máu khi Hematocrit tăng > 20% so với giá trị ban đầu của người bệnh hoặc so với giá trị trung bình của dân số ở cùng lứa tuổi. Ví dụ: Hct ban đầu là 35%, SXHD có tình trạng cô đặc máu khi Hct hiện tại đo được là 42% (tăng 20% so với ban đầu); số lượng tiểu cầu giảm (< 100.000/mm3); AST, ALT thường tăng; trường hợp nặng có thể có rối loạn đông máu; Siêu âm hoặc X-quang có thể phát hiện tràn dịch màng bụng, màng phổi. 

(Tổng hợp) Hướng dẫn chẩn đoán, điều trị sốt xuất huyết Dengue 2

Giai đoạn hồi phục thường vào ngày thứ 7 - 10 của bệnh. Biểu hiện lâm sàng là người bệnh hết sốt, toàn trạng tốt lên, thèm ăn, huyết động ổn định và tiểu nhiều; có thể phát ban hồi phục hoặc ngứa ngoài da; có thể có nhịp tim chậm, không đều, có thể có suy hô hấp do quá tải dịch truyền.

Biểu hiện cận lâm sàng giai đoạn này là Hematocrit trở về bình thường hoặc có thể thấp hơn do hiện tượng pha loăng máu khi dịch được tái hấp thu trở lại; Số lượng bạch cầu máu thường tăng lên sớm sau giai đoạn hạ sốt; Số lượng tiểu cầu dần trở về bình thường, muộn hơn so với số lượng bạch cầu; AST, ALT có khuynh hướng giảm. 

Bộ Y tế cũng đưa ra 8 trường hợp cần xem xét chỉ định nhập viện khi mắc bệnh: Người bệnh sống một mình; nhà xa cơ sở y tế, không thể nhập viện kịp thời khi bệnh trở nặng; gia đình không có khả năng theo dõi sát; trẻ nhũ nhi; dư cân, béo phì; phụ nữ có thai; người trên 60 tuổi; bệnh mạn tính đi kèm (thận, tim, gan, hen, COPD kém kiểm soát, đái tháo đường, thiếu máu tan máu...).

Theo Bộ Y tế, phần lớn các trường hợp mắc sốt xuất huyết đều được điều trị ngoại trú và theo dõi tại y tế cơ sở. Tuy nhiên trong quá trình diễn biến, bệnh có thể chuyển từ mức độ nhẹ sang nặng, vì vậy khi thăm khám cần phân độ lâm sàng để tiên lượng bệnh và có kế hoạch xử trí thích hợp. Phát hiện sớm và hiểu rõ những vấn đề lâm sàng trong từng giai đoạn của bệnh giúp chẩn đoán sớm, điều trị đúng, kịp thời, nhằm cứu sống người bệnh.

Tin cùng chuyên mục
Dù đã có vắc xin nhưng vì sao bệnh bạch hầu vẫn rất nguy hiểm?

Dù đã có vắc xin nhưng vì sao bệnh bạch hầu vẫn rất nguy hiểm?

Bệnh bạch hầu là do vi khuẩn bạch hầu Corynebacterium diphtheriae (C. diphtheriae) gây ra. Khi chúng ta chưa tiêm vắc xin phòng bệnh, vi khuẩn này có thể lây từ người này sang người khác khi người nhiễm bệnh ho hoặc hắt hơi. Và dù được tiêm vắc xin nhưng bệnh bạch hầu vẫn đặc biệt nguy hiểm trong cộng đồng.