Analytic
Báo Dân tộc và Phát triẻn
Chuyên trang

Dân tộc - Tôn giáo với sự phát triển của đất nước

Khoa học - Công nghệ

Công nghệ số về bản: Cú hích cho phát triển sinh kế vùng cao

Phạm Tiến - 9 giờ trước

Ở nhiều bản làng vùng cao các tỉnh Bắc Trung Bộ, ngày nay, công nghệ số đã hiện diện trong từng nếp nhà. Chiếc điện thoại thông minh không đơn thuần chỉ dùng vào việc liên lạc, mà đã trở thành phương tiện để đồng bào DTTS ứng dụng, tạo dựng sinh kế.

Xóa "vùng lõm" về hạ tầng và tư duy

Những năm gần đây, hạ tầng viễn thông ở vùng cao các tỉnh Bắc Trung Bộ đã được đầu tư, xây dựng tương đối đồng bộ. Sóng 4G đã phủ đến nhiều bản làng xa xôi, những “vùng lõm sóng” trước đây dần được xóa bỏ.

Xây dựng trạm BTS, từng bước xóa "Vùng lõm sóng" ở miền núi, vùng DTTS Bắc Trung Bộ
Xây dựng trạm BTS, từng bước xóa "Vùng lõm sóng" ở miền núi, vùng DTTS Bắc Trung Bộ

Cùng với đầu tư hạ tầng, chính quyền địa phương ở các xã vùng cao đã thành lập nhiều tổ công tác, tổ chuyển đổi số về tận bản làng để hướng dẫn bà con sử dụng công nghệ, Internet,  giúp bà con tiếp cận các nền tảng số, các trang mạng xã hội để ứng dụng vào đời sống và sản xuất.

Ông Cao Tiến Viện, Trưởng thôn Tân Lợi, xã Minh Hóa - Thành viên Tổ chuyển đổi số xuống tận hộ gia đình hướng dẫn bà con cập nhập thông tin (Ảnh: Phạm Tiến)
Ông Cao Tiến Viện - Trưởng thôn Tân Lợi, xã Minh Hóa - Thành viên Tổ chuyển đổi số xuống tận hộ gia đình hướng dẫn bà con cập nhập thông tin. (Ảnh: Phạm Tiến)

Hiện, công nghệ số dần trở thành công cụ quen thuộc đối với đồng bào DTTS. Điện thoại thông minh cũng không đơn thuần chỉ dùng để liên lạc mà còn trở thành phương tiện để sản xuất, kinh doanh. Các trang mạng xã hội như Zalo và Facebook trở thành “chợ online” để đồng bào vùng cao giao thương với khách hàng ở mọi miền.

Câu chuyện của anh Quang Văn Trung (1994), dân tộc Thái ở bản Pục, xã Quế Phong, tỉnh Nghệ An, là minh chứng rõ nét cho việc ứng dụng công nghệ số vào việc kinh doanh trực tuyến.

Năm 2021, anh Quang Văn Trung được cán bộ xã hướng dẫn sử dụng mạng Internet để cài đặt ứng dụng định danh cá nhân trên VNeID. Anh Trung cũng được hướng dẫn sử dụng Zalo và Facebook để đọc thông tin trong các hội nhóm của địa phương. 

Dùng dần rồi quen, anh Trung dùng Zalo, Facebook để đăng tải video, hình ảnh gà thả trong nông trại với thương hiệu "Gà bản địa bản Pục”. Nhờ đó, nhiều khách hàng biết đến nông trại của anh Trung, đã đặt mua gà trên mạng, thậm chí nhiều người còn tìm đến tận nông trại của anh, không chỉ mua gà mà còn để học hỏi, chia sẻ kinh nghiệm.

Anh Quang Văn Trung chủ động ứng dụng công nghệ số và đã thành công với mô hình nuôi gà sạch (Ảnh: Phạm Tiến).
Anh Quang Văn Trung chủ động ứng dụng công nghệ số và đã thành công với mô hình nuôi gà sạch. (Ảnh: Phạm Tiến)

Không những bán được gà, thương hiệu “Gà bản địa bản Pục” cũng được nhiều người ưa chuộng. Quy mô chăn nuôi của gia đình anh Trung đã lên đến 2.000 con/năm. Đây là con số mà trước đây anh Trung chưa bao giờ dám nghĩ tới. 

Sản phẩm con gà trong nông trại anh Trung có nguồn đầu ra tăng mạnh và ổn định, gia đình anh cũng dần khá lên rồi trở thành hộ gia đình làm kinh tế giỏi nhất bản Pục, xã Quế Phong.

Mô hình nuôi gà sạch ở bản Pục đã được nhiều người biết đến thông qua các trang mạng xã hội. Ảnh: (Phạm Tiến)
Mô hình nuôi gà sạch ở bản Pục đã được nhiều người biết đến thông qua các trang mạng xã hội. Ảnh: (Phạm Tiến)

Chưa dừng lại ở đó, cũng từ mạng xã hội Zalo và Facebook, Quang Văn Trung còn xây dựng Tổ hợp tác nuôi “Gà sạch bản Pục” với sự tham gia tích cực của 17 hộ đồng bào Thái ở địa phương. Đến nay, trung bình mỗi năm, Tổ hợp tác xuất bán gần 20 tấn gà thương phẩm, mỗi hộ đồng bào Thái tham gia Tổ hợp tác có thu nhập từ 80 - 100 triệu đồng/năm.

Đáng chú ý, phần lớn gà ở nông trại anh Trung cũng như ở 17 hộ liên kết nuôi “Gà sạch bản Pục” đều được bán ra thông qua các kênh mạng xã hội.

Từ thay đổi nhỏ đến tác động lan tỏa

Nếu trong nông nghiệp, công nghệ số giúp mở rộng đầu ra, thì trong du lịch, công nghệ số lại đóng vai trò đắc lực trong việc quảng bá và kết nối cung - cầu.

Đây là cách mà chị Hộ Thị Đoan, người dân tộc Bru Vân Kiều giới thiệu về điểm du lịch Suối Bản (Ảnh: Phạm Tiến)
Đây là cách mà chị Hộ Thị Đoan, dân tộc Bru Vân Kiều, giới thiệu về điểm du lịch Suối Bản. (Ảnh: Phạm Tiến)

Trường hợp của chị Hồ Thị Đoan, người Bru Vân Kiều ở bản Còi Đá, xã Kim Ngân, tỉnh Quảng Trị, đã cho thấy rõ điều đó.

Năm 2023, chị Đoan được mời tham gia lớp tập huấn bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ du lịch, du lịch cộng đồng cho phụ nữ Bru Vân Kiều do Hội Liên hiệp Phụ nữ xã Kim Ngân tổ chức. Sau lớp tập huấn, một ý tưởng sinh kế mới đã hình thành. Vợ chồng chị Đoan xây dựng hai nhà chòi đơn sơ bên suối bản Còi Đá để làm điểm du lịch.

Thay vì chờ khách tìm đến, chị Đoan chủ động đưa hình ảnh điểm du lịch quảng bá trên các trang mạng xã hội. Phong cảnh ở suối bản Còi Đá và món ăn truyền thống của đồng bào Bru Vân Kiều… được giới thiệu qua nhiều video, hình ảnh chân thật, gần gũi.

Qua các trang mạng xã hội, văn hóa truyền thống của đồng bào Bru Vân Kiều và những điểm đặc biệt trong ấm thực ở điểm du lịch Suối Bản được quảng bá rộng rãi (Ảnh: Phạm Tiến)
Qua các trang mạng xã hội, văn hóa truyền thống của đồng bào Bru Vân Kiều và những điểm đặc biệt trong ấm thực ở điểm du lịch Suối Bản được quảng bá rộng rãi. (Ảnh: Phạm Tiến)

Nhờ quảng bá rộng rãi trên các trang mạng xã hội, điểm du lịch Suối Bản từ chỗ chỉ phục vụ khách địa phương và khách trong tỉnh thì đến nay đã có khách từ các thành phố lớn và cả khách quốc tế tìm về. 

Điểm du lịch Suối Bản của gia đình chị Đoan, đã trở thành điểm đến hấp dẫn được nhiều du khách lựa chọn bởi nét hoang sơ, vẻ đẹp dân dã cùng những món ăn truyền thống, đậm đà bản sắc của đồng bào các DTTS.

Không chỉ mang lại thu nhập cho gia đình, mô hình điểm du lịch Suối Bản còn tạo việc làm cho 5 lao động trong bản Còi Đá. Quan trọng hơn, nhiều sản phẩm địa phương như: Nếp than, bánh chì, gà, rau… ở bản Còi Đá có thêm đầu ra ổn định nhờ sức tiêu thụ của khách du lịch.

Cảnh đẹp ở suối bản Còi Đá cũng đã được chị Đoan tận dụng tối đa để quảng bá (Ảnh: Phạm Tiến)
Cảnh đẹp ở suối bản Còi Đá cũng đã được chị Đoan tận dụng tối đa để quảng bá. (Ảnh: Phạm Tiến)

Rõ ràng, công cuộc chuyển đổi số đã và đang tạo ra một “cuộc cách mạng” ở vùng cao Bắc Trung Bộ. Chuyển đổi số cũng đang tạo ra môi trường mới để đồng bào các DTTS ở Bắc Trung Bộ tiếp cận thị trường theo đúng xu hướng, từng bước nâng cao đời sống.

Có thể nhận thấy, khi người dân được tiếp cận công nghệ, họ không chỉ thay đổi cách làm ăn. Họ thay đổi cả tư duy phát triển, từ phụ thuộc sang chủ động. Từ sản xuất nhỏ lẻ sang liên kết để tiếp cận với thị trường mở.

Tin cùng chuyên mục
Xây dựng “hệ miễn dịch” thông tin xấu độc trên không gian mạng: Khi “con ma rừng” tin giả theo sóng 4G leo núi (Bài 1)

Xây dựng “hệ miễn dịch” thông tin xấu độc trên không gian mạng: Khi “con ma rừng” tin giả theo sóng 4G leo núi (Bài 1)

Sự bùng nổ mạng Internet, sóng 4G về tận thôn bản, điện thoại thông minh kết nối mạng xã hội… đã mở cánh cửa thông tin tràn ngập cho người dân, trong đó có đồng bào ở miền núi vùng cao Quảng Ninh. Thế nhưng, đi theo màn hình nhỏ bé ấy còn có cả những luồng tin xấu, độc ví như “con ma rừng” len lỏi, trực tiếp đe dọa đến sự bình yên và niềm tin của người dân.
Đọc nhiều