Công nhân Hợp tác xã Sỹ Thu Trà vận hành máy sao chè công nghệ cao trong quy trình chế biến. (Ảnh: Thảo Khánh)Đổi mới từ người làm chè
Toàn tỉnh Thái Nguyên hiện có trên 22.000ha chè, sản lượng chè búp tươi đạt hơn 265 nghìn tấn mỗi năm, tổng giá trị sản phẩm ước đạt 14,8 nghìn tỷ đồng (năm 2025). Những con số này, không chỉ phản ánh quy mô, mà còn khẳng định vị thế đặc biệt của chè Thái Nguyên, thương hiệu được định danh là “Đệ nhất danh trà” trên bản đồ nông sản Việt Nam.
Không chỉ mang lại giá trị kinh tế, cây chè còn gắn bó mật thiết với đời sống văn hóa của người dân. Từ Tân Cương, Trại Cài, Khe Cốc đến Đại Phúc, La Bằng…, mỗi vùng chè đều có hương vị riêng, tạo nên bản sắc đặc trưng. Chính sự đa dạng ấy đang mở ra hướng đi mới khi kết hợp sản xuất chè với phát triển du lịch trải nghiệm.
Để hiện thực hóa mục tiêu đưa giá trị cây chè đạt trên 25.000 tỷ đồng vào năm 2030, tỉnh Thái Nguyên đã ban hành Nghị quyết số 11-NQ/TU với nhiều giải pháp đồng bộ, từ nâng cao chất lượng sản phẩm đến xây dựng thương hiệu, ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số. Một trong những thay đổi dễ nhận thấy nhất là tư duy sản xuất của người dân. Từ chỗ làm chè theo kinh nghiệm, nhỏ lẻ, nhiều hộ đã chuyển sang sản xuất theo tiêu chuẩn, liên kết trong hợp tác xã, doanh nghiệp.
Chị Lê Thị Thu, Giám đốc Hợp tác xã Sỹ Thu Trà (xã Đại Phúc, tỉnh Thái Nguyên) cho biết: “Trước đây, bà con chủ yếu làm chè theo thói quen, mạnh ai nấy làm nên chất lượng không đồng đều, giá trị không cao. Khi tham gia hợp tác xã, chúng tôi cùng nhau xây dựng quy trình chung, chú trọng từ khâu nguyên liệu đến chế biến để tạo ra sản phẩm ổn định, có thương hiệu.”
Theo chị Thu, điều quan trọng nhất trong sản xuất chè là yếu tố thời gian. “Chè sau khi hái phải được đưa vào chế biến ngay trong ngày. Chỉ cần chậm một chút thôi là hương vị đã thay đổi. Vì vậy, chúng tôi luôn kiểm soát rất chặt chẽ quy trình để giữ được chất lượng tốt nhất,” chị Thu nói.
Hiện hợp tác xã có vùng nguyên liệu hơn 7ha, quy tụ gần 20 thành viên và tạo việc làm thường xuyên cho nhiều lao động địa phương. Dù quy mô chưa lớn, nhưng mô hình này đang góp phần thay đổi cách nghĩ, cách làm của người trồng chè.
Chị Lê Thị Thu (SN 1988), Giám đốc Hợp tác xã Sỹ Thu Trà (bên trái) cùng công nhân đóng gói sản phẩm trà thành phẩm. (Ảnh: Thảo Khánh)Hướng tới “cây trồng tỷ đô”
Ông Phạm Văn Thọ, Giám đốc Sở Công Thương tỉnh Thái Nguyên chia sẻ: “Muốn chè Thái Nguyên phát triển bền vững, chúng ta phải nâng cao chất lượng và mở rộng thị trường. Sản phẩm phải đạt tiêu chuẩn, có truy xuất nguồn gốc rõ ràng thì mới có thể chinh phục được người tiêu dùng, đặc biệt là thị trường quốc tế.”
Theo ông Thọ, ngành Công Thương đang đẩy mạnh hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã tham gia các hội chợ, kết nối giao thương, đồng thời đưa sản phẩm chè lên các sàn thương mại điện tử.
“Chúng tôi cũng tận dụng các hiệp định thương mại quốc tế để quảng bá chè Thái Nguyên ra thế giới, từng bước xây dựng thương hiệu mạnh,” ông cho biết thêm.
Sau hơn một năm triển khai Nghị quyết số 11-NQ/TU, ngành chè Thái Nguyên đã đạt nhiều kết quả tích cực. Toàn tỉnh hiện có trên 6.400ha chè đạt chứng nhận VietGAP, 179ha đạt tiêu chuẩn hữu cơ. Đã có 203 sản phẩm chè được công nhận OCOP từ 3 đến 5 sao.
Cùng với đó, việc ứng dụng công nghệ trong quản lý sản xuất được đẩy mạnh. Hàng trăm mã số vùng trồng đã được cấp và quản lý bằng định vị GPS, hàng nghìn cơ sở tham gia hệ thống phần mềm quản lý chất lượng nông sản.
Chia sẻ về vấn đề này, ông Nguyễn Hải Hà, Phó Chủ tịch UBND xã Đại Phúc cho biết: “Chúng tôi xác định muốn nâng cao giá trị cây chè thì phải đảm bảo an toàn và chất lượng. Vì vậy, địa phương đang tập trung hướng dẫn người dân sản xuất theo tiêu chuẩn, đồng thời ứng dụng công nghệ để truy xuất nguồn gốc, tạo niềm tin cho thị trường.”
Ông Hà cũng cho biết thêm, Đại Phúc đặt mục tiêu đến năm 2030 giá trị thu từ cây chè đạt từ 900 triệu đến 1 tỷ đồng/ha/năm, đồng thời phát triển chè gắn với du lịch để tăng thêm nguồn thu.
Cán bộ xã Đại Phúc tham quan, tìm hiểu quy trình sản xuất và chất lượng chè tại Hợp tác xã Sỹ Thu Trà. (Ảnh: Thảo Khánh)Không chỉ dừng lại ở thị trường trong nước, chè Thái Nguyên đang từng bước vươn ra thế giới. Nhãn hiệu tập thể “Chè Thái Nguyên” đã được bảo hộ tại nhiều quốc gia, trong khi chỉ dẫn địa lý “Tân Cương” đã được bảo hộ tại thị trường châu Âu.
Các lễ hội, sự kiện quảng bá như “Thái Nguyên - Hương sắc danh trà” cũng góp phần lan tỏa hình ảnh chè Việt, thu hút hàng chục nghìn lượt khách tham quan mỗi năm.
Nhìn về tương lai, mục tiêu đưa cây chè đạt giá trị trên 25.000 tỷ đồng vào năm 2030, chính là động lực để toàn ngành tiếp tục đổi mới. Từ những đồi chè xanh hôm nay, một hướng đi mới đang dần hình thành, nơi cây chè không chỉ là nông sản, mà còn là sản phẩm văn hóa, du lịch và thương hiệu quốc gia. Trong hành trình ấy, những người làm chè chính là những nhân tố quan trọng nhất, góp phần đưa hương trà Thái Nguyên vươn xa.