Analytic
Báo Dân tộc và Phát triẻn
Chuyên trang

Dân tộc - Tôn giáo với sự phát triển của đất nước

Phóng sự

Giàng Pằng - Nơi người Mông viết câu chuyện từ Shan tuyết

Đặng Phương Lan - 10:31, 19/03/2026

Giữa mây trắng Giàng Pằng, xã Sơn Lương, tỉnh Lào Cai, tôi đứng lặng trước những gốc chè cổ thụ, nghe mùa Xuân thì thầm trong từng thớ gỗ. Ở nơi ấy, chè không chỉ là cây trồng để mưu sinh mà đã hóa thành hơi thở, thành niềm tin âm thầm nuôi dưỡng đời sống người Mông qua bao mùa mưa nắng.

Đồng bào Mông hái chè Shan tuyết cổ thụ
Đồng bào Mông hái chè Shan tuyết cổ thụ

Cây chè bén duyên với đất và người

Sớm, mây giăng trắng đỉnh núi. Gió lạnh luồn qua từng tán chè xù xì, rêu phong phủ mốc xanh. Những búp non phơn phớt sương, hương ngai ngái lan trong không khí nồng nàn. Người Mông ở đây quen với gió dữ, quen với tuyết phủ, quen cả tiếng lửa nổ tí tách trong gian nhà gỗ khi Đông về.

Bên bếp củi rực đỏ, trong làn khói mỏng, ông Giàng A Hờ, 73 tuổi, chậm rãi nói với tôi, giọng trầm như sương núi: Chè là hơi thở của bản, là linh hồn của người Mông Giàng Pằng.

Tôi ngồi đối diện, nghe tiếng củi nổ tí tách. Hỏi ông vì sao giữa ngàn núi khắc nghiệt này, người Mông vẫn chọn cây chè để bám trụ, ông nhìn vào bếp lửa một lúc lâu rồi mỉm cười nói: Người Mông đi đâu cũng tìm đất có nước, có rừng, có mây phủ. Ở Giàng Pằng này, đất chọn người trước, rồi người mới chọn chè để sống.

Khoảnh khắc ấy, tôi chợt hiểu: Trong tiếng lửa reo và làn khói Xuân bảng lảng, câu chuyện về chè không chỉ được kể bằng lời, mà bằng cả một đời người gắn bó với núi rừng.

Hơn trăm năm trước, nhóm người Mông rời Sùng Đô, huyện Văn Chấn cũ vượt núi tìm đất mới, mang theo giống chè Shan Tuyết từ Suối Giàng lên trồng. Độ cao Giàng Pằng vượt Suối Giàng gần bảy trăm mét, lạnh quanh năm, tuyết dày phủ trắng lá. Búp chè lớn chậm nhưng giữ được lớp lông tuyết đặc trưng, thứ hương vị mà cả trăm năm sau vẫn trở thành “ngọc xanh” của núi.

Ban đầu, chè được trồng tự nhiên, chẳng ai chăm. Có mùa tuyết rơi đến mức lá bạc trắng, nhiều cây chết đứng, bà con bỏ đi làm nương khác. Rồi một ngày, nhìn người Suối Giàng sống nhờ chè, người Giàng Pằng lại trở về với mảnh đất cũ: Phát cỏ, tỉa cành, vun gốc, giữ cây chè. Từ đó, người Mông Giàng Pằng không du canh, mà định cư bên đồi chè Shan tuyết.

Chiều xuống nhanh trên Giàng Pằng. Sương buốt tràn qua lối, tôi tìm đến nhà cụ Giàng A Hờ, gần 80 tuổi, người trong bản vẫn gọi bằng cái tên thân thương “kho chè sống”. Cụ lom khom bên chảo gang đen bóng, đôi bàn tay run run theo năm tháng nhưng vẫn dẻo dai khi đảo chè. Lửa bập bùng hắt lên gò má nhăn nheo. Thấy tôi ngồi xuống bên bếp, cụ ngẩng lên nói: Cây chè cũng như con người thôi, phải chịu sương chịu gió thì mới giữ được hương.

Tôi hỏi cụ ngày xưa làm chè thế nào, cụ cười, đôi mắt lim dim như đang lần giở ký ức xa xăm: Hái về, vò bằng tay, rồi đem phơi nắng. Nắng càng gắt, nước chè càng đỏ, càng chát. Uống đắng ngắt mà ấm bụng. Chè giữ chân người bản qua những ngày bão tuyết, cũng là thứ để mời khách phương xa. Giờ máy móc hỗ trợ, nhưng hương núi thì vẫn là hương núi, không lẫn đi đâu được.

Lời cụ Giàng A Hờ lắng lại trong gian bếp ám khói, như vị chè cũ còn đọng nơi đầu lưỡi. Tôi bước ra khỏi câu chuyện của ký ức để gặp một Giàng Pằng khác đang chuyển mình. Ở đó vẫn là những búp chè từ núi cao, vẫn là hương rừng, nhưng bàn tay nâng niu đã trẻ hơn, nhịp làm chè đã khác. Một lớp người trẻ đang lặng lẽ viết tiếp câu chuyện cũ bằng những cách rất mới.

Trong xưởng chè còn thơm mùi lá tươi, anh Giàng A Củ, chừng 30 tuổi, vừa chỉnh lại mẻ chè sấy vừa quay sang tôi, ánh mắt rạng rỡ, anh nói: Ngày trước chè chỉ bán được trăm nghìn đồng một ký thôi. Giờ chè xanh đã bốn trăm, chè đặc sản thì có loại hơn 3 triệu đồng. Bọn em ở nhà làm chè, làm du lịch, không phải bỏ bản đi làm xa nữa.

Mùa Thị Mỷ, cô gái Mông có đôi mắt sáng, tiếp lời:

- Em học cách sao chè dưới Yên Bái về. Giờ làm chè sạch, không phun hóa chất. Em muốn người xuôi, rồi cả người nước ngoài, đã uống chè Giàng Pằng là nhớ mãi.

Trong xưởng, tiếng “bom” sấy chè quay đều, hòa với tiếng cười nói rộn ràng của đám thanh niên bản, làm buổi chiều sương núi bớt lạnh. Tôi hỏi đùa:

- Thế còn chè phơi nắng, vò tay như ông bà ngày xưa, còn uống không?

Giàng A Lềnh ngẩng lên, cười tươi giữa làn hơi nóng:

- Uống chứ, để nhớ thôi. Nhưng giờ bọn em làm máy, sấy nhiệt nên nước đẹp hơn, vị dịu hơn. Có nơi còn đặt làm chè mốc, chè bánh như bên Trung Quốc, Đài Loan. Họ lên tận bản thử rồi. Chè Giàng Pằng giờ có mã QR, bán sang nước ngoài rồi đấy!

Công đoạn sao chè
Công đoạn sao chè

Giữa nhịp quay đều của máy sấy và tiếng nói cười trẻ trung, tôi nhận ra: Câu chuyện chè đã sang trang, nhưng gốc rễ vẫn bám chặt vào mây núi Giàng Pằng. Ngày xưa chè của người Mông thô sơ, phơi nắng nên nước đỏ, đắng và chát. Bây giờ công nghệ xao, sấy, sàng giúp giữ màu xanh, vị ngọt hậu, chát dịu mà vẫn nguyên hương rừng. Từ Giàng Pằng, các gói chè Shan Tuyết đã đặt chân đến Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Đông và châu Âu… Những bàn tay từng nứt nẻ vì nương rẫy giờ quen với chảo gang, lò sấy. Nghề cũ được sống bằng tri thức mới.

Chè Giàng Pằng vươn ra thế giới

Trời về chiều, sương đặc quánh như rót đầy các triền đồi. Chúng tôi rời những gốc chè cổ thụ để trở về bản, cùng đi có ông Trịnh Xuân Thành - Bí thư xã Sơn Lương, người nhiều năm gắn bó với Giàng Pằng. Từng là Trưởng ban Tuyên giáo huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái cũ, sau khi đổi mô hình quản lý, ông về công tác tại Sơn Lương, mang theo cả trải nghiệm thực tiễn lẫn cái nhìn dài hơi cho vùng chè này.

Trên con đường mờ sương, ông chậm rãi kể: Tôi đi nhiều vùng chè rồi, từ Suối Giàng, Phình Hồ đến Tà Sùa, nhưng hương chè Giàng Pằng là lạ nhất. Đậm mà lại thanh. Đó là hương của độ cao, của sương mây và của bàn tay người Mông.

Tôi hỏi, nửa đùa nửa thật:

- Có phải đang diễn ra một cuộc “cách mạng xanh” không, thưa ông?

Ông mỉm cười, ánh nhìn xa về phía những đồi chè khuất trong sương:

- Có thể nói vậy. Nhưng cốt lõi vẫn là ý thức của người dân. Chính họ quyết định giữ được hồn núi trong từng búp chè, dù công nghệ có hiện đại đến đâu. Chính quyền chỉ đóng vai trò đồng hành, tạo cơ chế, mở đường, còn linh hồn của cây chè thì vẫn nằm trong tay bà con.

Ông trầm ngâm một lát rồi nói tiếp, giọng chậm mà chắc:

- Giờ chè Giàng Pằng đã xuất khẩu sang nhiều nước. Nhưng điều quý nhất là người Mông làm kinh tế, làm giàu trên chính mảnh đất mình sống, mà không đánh mất văn hóa, không rời bỏ núi rừng.

Anh A Việt kiểm tra chất lượng chè Shan tuyết vùng cao Văn Chấn - Lào Cai xuất đi Pháp
Anh A Việt kiểm tra chất lượng chè Shan tuyết vùng cao Văn Chấn - Lào Cai xuất đi Pháp

Người Mông Giàng Pằng không dừng lại ở việc giữ nghề cũ. Họ lập tổ nhóm, xây dựng hợp tác xã, liên kết sản xuất, tiêu thụ theo hướng sạch, chuẩn và bền vững, để cây chè không chỉ xanh trên nương mà còn đứng vững trên thị trường.

Trong xưởng chè, Mùa Thị Mỷ - Giám đốc HTX Nông Lâm nghiệp - Du lịch cộng đồng Sùng Đô, rót ấm Bạch trà, vui mừng nói: Bọn em bán cho Công ty Cao Trà Mục Nhân, xuất sang Trung Quốc. Mỗi năm, HTX làm hơn 1 tấn Bạch trà, gần 5 tạ Hồng trà sống và hơn 1 tấn Lục trà. Vất vả nhưng vui, vì chè được biết đến nhiều hơn, bán giá cao hơn, người dân sống được bằng chính cây chè của mình.

Giàng A Ly, chủ xưởng chè đầu tiên mở ở thôn tiếp lời: Xưởng em làm đủ loại Bạch, Hồng, Lục, Phổ Nhĩ sống. Chè Giàng Pằng đã được giới thiệu ở Trung Quốc, Pháp, Đức, Czech… Muốn đứng được ngoài thị trường thì phải sạch, phải chuẩn. Trước bán chủ yếu sang Trung Quốc, 7 - 8 tấn mỗi năm. Năm nay họ tạm dừng nhập, bọn em chuyển hướng sang thị trường trong nước và châu Âu.

Giàng A Lềnh, chàng trai mang chè bản lên mạng xã hội bán, cười nói: Mỗi năm em làm 3 đến 5 tạ. Khách Mỹ như anh Stever Shafer, chị Anna Ye đặt đều. Bên Nhật có chị Keko quảng bá giúp…

Từ những nong chè phơi nắng trước hiên nhà đến những lò sấy hiện đại, từ gùi chè theo chân người Mông xuống chợ phiên đến những đơn hàng vượt đại dương sang Mỹ, Nhật, châu Âu… đó là hành trình dài của một cộng đồng biết học, biết đổi mới mà không đánh mất mình.

Trong sương chiều bảng lảng, tiếng sao chè lách cách hòa cùng hương xuân non. Giữa mây ngàn Giàng Pằng, những búp chè Shan tuyết bật xanh, mang theo khát vọng mới. 

Tin cùng chuyên mục
Hoa lửa…

Hoa lửa…

Ở thôn My Bắc, xã Tân Trịnh, tỉnh Tuyên Quang, lửa không chỉ đỏ lên trong bếp mỗi sớm, mà còn bùng cháy giữa sân bản trong những đêm hội đặc biệt. Giữa nhịp sống đời thường của người Pà Thẻn, ngọn lửa ấy kết nối con người với niềm tin, nghi lễ và những giá trị văn hóa được gìn giữ qua nhiều thế hệ.