Analytic
Báo Dân tộc và Phát triẻn
Chuyên trang

Dân tộc - Tôn giáo với sự phát triển của đất nước

Sắc màu 54

Tranh dân gian Đông Hồ: Biểu tượng văn hóa độc đáo của Việt Nam

Ngọc Ánh - 2 giờ trước

Từ một dòng tranh dân gian ra đời nơi làng quê Kinh Bắc, tranh Đông Hồ đã đi qua hàng trăm năm lịch sử để trở thành biểu tượng văn hóa độc đáo của Việt Nam. Tháng 3 vừa qua, UNESCO đã ghi danh nghề làm tranh Đông Hồ vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp, mở ra những cơ hội mới trong việc bảo tồn, phát huy giá trị và đưa di sản vươn xa trên trường quốc tế.

Nghệ nhân Ưu tú Nguyễn Hữu Quả vẽ tranh dân gian chủ đề cá chép
Nghệ nhân Ưu tú Nguyễn Hữu Quả vẽ tranh dân gian chủ đề cá chép

Di sản trăm năm và những “người giữ lửa” bền bỉ

Tranh dân gian Đông Hồ ra đời tại làng Đông Hồ (nay thuộc phường Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh) từ cách đây khoảng 500 năm. Theo các tư liệu dân gian, ông tổ nghề được tôn vinh là những bậc tiền nhân trong các dòng họ làm tranh lâu đời, đặc biệt là họ Nguyễn Đăng và Nguyễn Hữu - những gia tộc đã truyền nối nghề qua nhiều thế hệ.

Xưa kia, làng Đông Hồ từng là một trung tâm sản xuất tranh dân gian sầm uất bậc nhất vùng đồng bằng Bắc Bộ. Vào mỗi dịp Tết Nguyên đán, cả làng rộn ràng in tranh, chợ tranh họp ngay bên bờ sông Đuống, người dân khắp nơi tìm về mua tranh treo trong nhà, vừa để trang trí, vừa gửi gắm ước vọng về cuộc sống no đủ, hạnh phúc.

Tranh Đông Hồ nổi bật bởi kỹ thuật in khắc gỗ và chất liệu hoàn toàn tự nhiên. Mỗi bức tranh thường phải in qua nhiều lần với các bản khắc khác nhau, từ màu nhạt đến đậm, cuối cùng mới in nét đen để hoàn thiện. Chính sự công phu ấy tạo nên vẻ đẹp mộc mạc nhưng giàu tính biểu tượng của dòng tranh này.

Không chỉ mang giá trị thẩm mỹ, tranh Đông Hồ còn phản ánh đời sống xã hội và triết lý dân gian: Từ cảnh sinh hoạt “Hứng dừa”, “Đánh ghen”, ước vọng sung túc: “Lợn đàn”, “Gà đàn” đến những bài học đạo lý: “Đám cưới chuột”… Đó là “ngôn ngữ thị giác” gần gũi mà sâu sắc của người Việt qua nhiều thế hệ.

Tuy nhiên, bước vào thời kỳ hiện đại, dòng tranh này từng rơi vào giai đoạn suy giảm nghiêm trọng. Khi nhu cầu thị trường thay đổi, nhiều hộ dân bỏ nghề, chuyển sang làm vàng mã hoặc nghề khác. Có thời điểm, cả làng chỉ còn vài gia đình duy trì làm tranh.

Sản phẩm ứng dụng tranh Đông Hồ
Sản phẩm ứng dụng tranh Đông Hồ

Trong số ít ỏi ấy, có 3 nghệ nhân tiêu biểu: Nguyễn Đăng Chế, Nguyễn Hữu Quả và Nguyễn Thị Oanh được coi là những “di sản sống”. Họ không chỉ giữ nghề mà còn nỗ lực khôi phục, sáng tạo và truyền dạy để dòng tranh không bị đứt gãy.

Nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế đã sưu tầm, phục dựng hàng trăm bản khắc cổ, mở trung tâm bảo tồn và đón khách tham quan. Nghệ nhân Nguyễn Hữu Quả miệt mài sáng tác, tìm đầu ra cho sản phẩm và đưa tranh tham gia nhiều triển lãm quốc tế. Nghệ nhân Nguyễn Thị Oanh tích cực quảng bá tranh Đông Hồ tại các sự kiện văn hóa, ngoại giao lớn trong và ngoài nước.

Những nỗ lực ấy đã góp phần đưa tranh Đông Hồ vượt ra khỏi phạm vi làng nghề, trở thành cầu nối văn hóa trong các hoạt động đối ngoại. Đặc biệt, việc được UNESCO ghi danh nghề làm tranh Đông Hồ vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp vào tháng 3/2026 là dấu mốc quan trọng, khẳng định giá trị và mở ra cơ hội hồi sinh mạnh mẽ.

“Vẽ” tiếp giấc mơ di sản trong dòng chảy đương đại

Trong bối cảnh công nghiệp văn hóa phát triển, tranh Đông Hồ đang trở thành nguồn cảm hứng cho nhiều dự án nghệ thuật và thiết kế. Không chỉ dừng ở việc tìm hiểu, người trẻ chủ động “tái diễn giải” di sản bằng ngôn ngữ đương đại, đưa những họa tiết dân gian bước vào đời sống mới.

Các hình tượng quen thuộc được ứng dụng linh hoạt trong thiết kế đồ họa, thời trang, bao bì và quà lưu niệm. Từ áo phông, túi vải đến sổ tay, bình nước…, họa tiết Đông Hồ được cách điệu tinh tế, vừa giữ bản sắc vừa phù hợp thị hiếu hiện đại. Một số dự án còn nâng tầm ứng dụng khi đưa tranh vào thiết kế nội thất, quà tặng văn hóa hay không gian trưng bày nghệ thuật.

Sản phẩm Bộ lưu niệm tượng 3D Đông Hồ và set Tô tượng của nhóm sinh viên Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội
Sản phẩm Bộ lưu niệm tượng 3D Đông Hồ và set Tô tượng của nhóm sinh viên Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội

Tiêu biểu là dự án “Đông Hồ mới” của sinh viên Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội, khi chuyển thể tranh 2D thành mô hình 3D, tạo ra các sản phẩm trang trí mang tính thẩm mỹ cao, phù hợp không gian sống hiện đại. Bên cạnh đó, nhóm còn đưa họa tiết dân gian vào các sản phẩm đời sống như túi vải, bình giữ nhiệt, đồ trang trí…, đồng thời tổ chức workshop và tour làng nghề để người trẻ trực tiếp trải nghiệm, kết nối với di sản.

Không chỉ trong thiết kế, tranh Đông Hồ còn trở thành chất liệu sáng tạo trong âm nhạc, điện ảnh và nghệ thuật số. Nhiều MV và dự án truyền thông lấy cảm hứng từ tranh dân gian đã góp phần lan tỏa giá trị truyền thống trên các nền tảng số, tiếp cận rộng rãi công chúng trẻ.

Theo các chuyên gia, tranh Đông Hồ có nhiều lợi thế để phát triển thành thương hiệu văn hóa quốc gia: Hình khối giản dị, màu sắc đặc trưng, tính biểu tượng cao và khả năng kể chuyện. Đây là những yếu tố phù hợp với thiết kế hiện đại và thị trường toàn cầu. Tuy nhiên, để vươn tầm quốc tế, cần một chiến lược bài bản: chuẩn hóa chất lượng, bảo hộ sở hữu trí tuệ, phát triển sản phẩm và xây dựng hệ sinh thái sáng tạo.

Quan trọng hơn, cần sự liên kết giữa nghệ nhân, nhà thiết kế và doanh nghiệp để đưa tranh Đông Hồ vào chuỗi giá trị của ngành công nghiệp văn hóa. Giáo dục và truyền thông cũng giữ vai trò then chốt trong việc nuôi dưỡng tình yêu di sản cho thế hệ trẻ. Khi di sản được tiếp sức đúng cách, bản sắc văn hóa Việt sẽ tiếp tục lan tỏa bền vững.

Tin cùng chuyên mục
Bảo vệ kho tàng sử liệu vô giá của người Dao Thanh Phán

Bảo vệ kho tàng sử liệu vô giá của người Dao Thanh Phán

Giữa nhịp sống kỷ nguyên số, tại tỉnh Quảng Ninh, những trang sách chữ Nôm ố vàng vẫn được người Dao Thanh Phán gìn giữ như "kim chỉ nam" cho đời sống tâm linh và đạo đức. Đây không chỉ là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, mà còn là kho tàng sử liệu vô giá chứa đựng trí tuệ nghìn năm của cha ông.
Đọc nhiều